ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

21:14:59 07/08/2012

 

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

NÂNG CAO VAI TRÒ VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG THIẾT BỊ DẠY HỌC

Chu Mạnh Nguyên

Tổng Thư ký Hiệp hội Thiết bị Giáo dục Việt Nam

 

1. Chỉ thị 55/2008/CT-BGDĐT, ngày 16/7/2008 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT có ý nghĩa định hướng cho Ngành GD&ĐT, cho các cơ quan quản lý giáo dục, cho các nhà trường của hệ thống giáo dục quốc dân trong việc tăng cường giảng dạy, đào tạo và cung ứng Công nghệ thông tin (CNTT) giai đoạn 2008- 1012.

Hiện nay, sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ngày càng rộng rãi bởi những tính năng ưu việt của nó và những hiệu quả cao mà nó mang lại trong quá trình dạy học. Việc sử dụng các hiệu ứng kĩ thuật của máy tính để mô phỏng các quá trình phức tạp, hoặc tiến hành các thí nghiệm ảo mà không thể tiến hành trong thực tế.

 Các sản phẩm của CNTT hiện nay rất nhiều, đa dạng và ngày càng hiện đại trong đó có thể kể đến “Màn hình thông minh- màn hình cảm ứng- bảng điện tử” hoặc “Phòng học ngoại ngữ thế hệ Multimedia”, đó là các sản phẩm CNTT có nhiều tính năng, được tích hợp từ các tính năng riêng lẻ của các sản phẩm thế hệ trước nó; Chúng đã đem đến cho quá trình dạy học một hướng phát triển mới, đặc biệt có ý nghĩa về phương pháp luận.

Các sản phẩm của CNTT nằm trong hệ thống thiết bị dạy học. Các sản phẩm của CNTT nói riêng và thiết bị dạy học nói chung phải đạt được các mục đích chính sau đây:

- Chúng phải tạo thuận lợi cho giáo viên giảng dạy và học sinh học tập, giảm cường độ lao động sư phạm của người dạy và người học,

- Chúng hàm chứa nội dung dạy học và chúng là phương tiện chuyển tải nội dung dạy học,

- Chúng là con đường quyết định trong việc thay đổi tầm nhìn của người dạy và người học đối với các sự vật hiện tượng (tự nhiên, xã hội); thay đổi phương pháp tư duy để phát triển tư duy cho học sinh và cho cả giáo viên. Sử dụng thành thạo và thành công thiết bị dạy học là con đường nâng tư duy và tri thức của bản thân lên ngang tầm tư duy và tri thức của các nhà khoa học. Mục đích này hiện nay còn chưa được nhận thức đầy đủ.

Quá trình ứng dụng CNTT trong ngành GD&ĐT hiện nay theo các hướng sau:

- Tổ chức giảng dạy về CNTT với tư cách là một môn học trong các nhà trường.

- Tổ chức ứng dụng các thành tựu khoa học- công nghệ mà CNTT đã đạt được vào qúa trình dạy học, trong đó có việc ứng dụng vào công tác thiết bị dạy học (TBDH) nhằm nâng cao vai trò và hiệu quả của việc sử dụng TBDH.

- Tổ chức sử dụng có hiệu quả các sản phẩm của CNTT nói riêng và thiết bị dạy học nói chung trong quá trình dạy học.

- Tổ chức ứng dụng các thành tựu khoa học - công nghệ mà CNTT đã đạt được vào các hoạt động quản lý giáo dục và quản lý nhà trường.

2. Để đảm bảo việc ứng dụng CNTT có hiệu quả trong công tác TBDH, cần chú ý:

2.1. Ứng dụng CNTT vào công tác TBDH phải giúp học sinh hiểu rõ hơn bản chất của sự vật, hiện tượng, phát huy tính tích cực của học sinh, góp phần đổi mới phương pháp dạy học (PPDH), nâng cao chất lượng đào tạo.

2.2. Phải thấy được và hiểu rõ: Sự tương tác giữa các sản phẩm của CNTT với hệ thống thiết bị dạy học hiện hành có hiệu quả sẽ tạo nên “tính trồi” của qúa trình dạy học- đó chính là nhân tố mới của việc nâng cao chất lượng dạy học góp phần “Đổi mới căn bản và toàn diện nền Giáo dục Việt Nam”. Các sản phẩm CNTT hỗ trợ quá trình sử dụng thiết bị dạy học với tư cách là sự tương tác giữa các phần tử của cùng một hệ thông. Các sản phẩm CNTT không phải để thay thế Thiết bị dạy học.

2.3. Ứng dụng CNTT vào công tác TBDH phải chú ý vấn đề kinh tế, đáp ứng yêu cầu sử dụng dưới nhiều hình thức khác nhau.

2.4. Ứng dụng CNTT vào công tác TBDH phải phù hợp với cơ sở vật chất, đặc điểm và điều kiện của từng đơn vị.

2.5. Những loại TBDH sau thích hợp với việc ứng dụng CNTT

 - Các mô tả, mô phỏng sự vật, hiện tượng mà bằng ngôn ngữ, hình ảnh, dụng cụ rất khó khăn hoặc không thể mô tả được hoặc mất quá nhiều thời gian như mô phỏng hoạt động của quả tim, giải phẫu người, mô hình kĩ thuật (động cơ đốt trong, cấu tạo máy móc hay kết cấu công trình…).

- Một số tranh ảnh minh hoạ: các bản đồ, lược đồ, địa lí, lịch sử, các sa bàn, mô hình, mẫu vật có kích thước lớn, có khối lượng lớn, những mô hình dễ gãy vỡ khi di chuyển hoặc lắp ráp phức tạp mất nhiều thời gian, các quá trình vật lí, hóa học, các quan hệ và chuyển động phức tạp trong không gian …

1.6. Những loại h×nh TBDH sau cần thận trọng khi ứng dụng CNTT

-  Những TBDH đòi hỏi học sinh phải trực tiếp được rèn luyện và phát triển tư duy trừu tượng, kĩ năng kẻ vẽ hình.

-  Những thí nghiệm, thực nghiệm nhằm rèn luyện cho học sinh các kỹ năng thực hành bằng taynh»m rÌn luyÖn cho HS c¸c kü n¨ng thực hành bằng tay đồng thời với các thao tác tư duy như quan sát, ghi chép, phân tích, cùng những kĩ năng học tập mà các môn học đòi hỏi được thể hiện trong thiết bị (đặc biệt trong dụng cụ thực nghiệm, tài liệu thực hành).

Hà Nội, ngày 08 tháng 3 năm 2012

Bình luận
Chưa có phản hồi

Bình luận của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng.

Video sản phẩm
Sản phẩm mới
Liên kết website
Thống kê